DỊCH VỤ Y KHOA


THƯ VIỆN SÁCH MEDIC

MedicalBooks

WEBSITE LIÊN KẾT


Warning: file_exists() [function.file-exists]: open_basedir restriction in effect. File(C:\Inetpub\vhosts\bvbinhan.com.vn\httpdocs\ver/http://img.f41.suckhoe.vnecdn.net/2015/12/11/260E8FE300000578-2967622-image-3493-4030-1449810189.jpg) is not within the allowed path(s): (C:/Inetpub/vhosts/bvbinhan.com.vn\;C:\Windows\Temp\) in C:\Inetpub\vhosts\bvbinhan.com.vn\httpdocs\ver\plugins\content\extranews.php on line 613

Bạn đã biết về nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (Hp)?

Email In PDF.

Trước đây, người ta cho rằng cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày - tá tràng là do sự mất cân bằng giữa hệ thống phá hủy niêm mạc.

Đại cương

Trước đây, người ta cho rằng cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày - tá tràng là do sự mất cân bằng giữa hệ thống phá hủy niêm mạc (acid dịch vị, pepsin) và hệ thống bảo vệ (lớp mucin, niêm mạc dạ dày). Do đó, mục tiêu điều trị là làm giảm tiết acid và tăng cường bảo vệ niêm mạc dạ dày. Sau khi điều trị lành và ngưng thuốc, các ổ loét lại rất dễ bị tái phát, cho nên người bệnh cần phải uống thuốc duy trì lâu dài.

Năm 1983, sự phát hiện ra Campylobacter pylori và mối liên quan của nó với bệnh loét dạ dày tá tràng đã đưa hai nhà khoa học người Úc đến giải thưởng Nobel Y học vào năm 2005. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các đặc tính của vi khuẩn, người ta nhận thấy nó không hoàn toàn giống như Campylobacter, vì vậy vi khuẩn đã được chính thức đổi tên thành Helicobacter pylori (Hp).

Dịch tể học

Nhiễm Hp là một trong những nhiễm khuẩn mạn tính thường gặp nhất ở người. Việt Nam cũng thuộc vùng có tỷ lệ nhiễm Hp cao, khoảng > 70% ở người lớn. Đường lây nhiễm chủ yếu là đường ăn uống (phân - miệng) hoặc lây trực tiếp (miệng - miệng) qua nước bọt. Ở những nơi có điều kiện vệ sinh kém, nguồn lây lan quan trọng là nước và thức ăn bị nhiễm.

Đặc tính của vi khuẩn Hp

 loetdaday

 vikhuan_hp

Hình ảnh nội soi ổ loét dạ dày
(BVĐHYD TPHCM)

Hình ảnh vi khuẩn Hp trên kính hiển vi điện tử
(Internet)

Hp là một loại xoắn khuẩn Gram âm, có 3-5 chiên mao. Nhờ cấu tạo này mà vi khuẩn có thể chui sâu và sống được trong lớp nhầy bao phủ trên niêm mạc dạ dày, ngoài ra nó còn có khả năng tiết ra men urease làm thủy phân urê thành CO2 và amôniắc (NH3) tạo nên một lớp có tính kiềm bao bọc xung quanh nó. Khi gặp môi trường không thuận lợi, vi khuẩn có thể biến đổi thành dạng hình cầu, tạm ngưng hoạt động và ngưng tiết men urease. Đến khi gặp điều kiện thích hợp, nó sẽ hoạt động trở lại

Vi khuẩn Hp gây bệnh như thế nào ?

1- Trên dạ dày và tá tràng

-   Nhiễm Hp xảy ra trên 90% người bệnh có loét tá tràng, trên 70% người bệnh có loét dạ dày.

-  Nhiễm Hp xảy ra trên 90% người bệnh có viêm dạ dày.

-   Nhiễm Hp xảy ra trên 50% người bệnh có chứng khó tiêu không do loét.

-   Nhiễm Hp gây nguy cơ ung thư dạ dày (tỷ lệ 90%) cao gấp 2-6 lần so với những người chưa bị nhiễm.

2- Ngoài ra nhiễm Hp còn liên quan đến một số bệnh khác như:

-  Bệnh trào ngược dạ dày - thực quản (GERD)

-  Bệnh tim thiếu máu cục bộ.

-  Ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn (ITP)

-  Thiếu máu thiếu sắt không rõ nguyên nhân.

Các phương pháp chẩn đoán nhiễm Hp tại Bệnh viện Bình An

            a- Các phương pháp không xâm lấn (không nội soi)

1 - Xét nghiệm huyết thanh tìm kháng thể kháng Hp.

Xét nghiệm này có giá trị trong lần chẩn đoán nhiễm đầu tiên (độ chính xác chẩn đoán khoảng 90%) nhưng không thể dùng xét nghiệm này để theo dõi sau khi điều trị Hp vì kháng thể vẫn còn tồn tại trong máu trong nhiều tháng.

2 - Tìm kháng nguyên đơn dòng của Hp trong phân

Độ nhạy là 91% và độ chuyên biệt là 93%. Lưu ý phải ngưng kháng sinh ít nhất từ 6-12 tuần trước khi làm xét nghiệm.

3 - Test hơi thở sử dụng 13 C-urea:

Độ chính xác trên 95%, thường được dùng để đánh giá kết quả sau quá trình điều trị Hp. Để tránh kết quả âm tính giả, bệnh nhân phải ngưng thuốc ức chế bơm proton (PPI) ít nhất 2 tuần và ngưng kháng sinh ít nhất 4 tuần sau điều trị.

            Hiện nay, chi phí các xét nghiệm không xâm lấn đã giảm và do sự đề kháng với kháng sinh đang tăng lên nên các bác sỹ thường khuyên bệnh nhân nên làm lại các xét nghiệm sau điều trị sau 4-6 tuần (sau khi ngưng kháng sinh và PPI) để xác nhận đã tiệt trừ Hp.

            b- Phương pháp xâm lấn : Nội soi dạ dày-tá tràng

            Qua nội soi dạ dày có thể quan sát rõ tổn thương, lấy các mẫu sinh thiết niêm mạc ở dạ dày để làm CLO test (test urease nhanh), PCR, cấy hoặc nhuộm vi khuẩn, giải phẫu bệnh lý.

Tại sao cần phải điều trị khi đã nhiễm Hp?

            Nhiễm Hp mãn tính làm cho hệ thống bảo vệ chống lại acid dạ dày bị yếu đi. Có nhiều loại thuốc có hiệu quả trên việc điều trị loét dạ dày như thuốc trung hoà acid (antacids), thuốc ức chế thụ thể H2 và các thuốc ức chế bơm proton (PPI), tuy nhiên các nhóm thuốc này không diệt được hoàn toàn Hp trong dạ dày. Do đó, loét dạ dày có thể tái phát sau khi ngưng thuốc. Vì vậy diệt được Hp thì sẽ ngăn chặn được loét dạ dày và các biến chứng.

            Ngoài ra điều trị Hp cũng được cho là yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa ung thư.

Điều trị nhiễm Hp như thế nào ?

   Hiện nay, việc điều trị loét dạ dày - tá tràng có thể phân ra hai nhóm chính: nhóm bệnh không do nhiễm Hp và nhóm do nhiễm Hp.

1-     Đối với nhóm loét dạ dày - tá tràng không do nhiễm Hp: nguyên nhân thường do dùng các thuốc kháng viêm, do stress, bệnh gan mạn tính. Trong quá trình điều trị cần phải:

-             Ngưng các thuốc gây loét kháng viêm, giảm stress.

-           Dùng các thuốc chống loét như: thuốc kháng acid (để trung hòa acid của dịch dạ dày), thuốc chống tiết acid (thuốc ức chế thụ thể H2 và  ức chế bơm proton), các thuốc bảo vệ niêm mạc  dạ dày (Bismuth, sucralfate, prostaglandin...)

-             Kiêng các thức ăn chua cay, nhiều chất béo, ngưng hút thuốc lá, ngưng uống bia, rượu. Tránh bớt các nguyên nhân gây căng thẳng thần kinh.  

2-     Đối với nhóm loét dạ dày-tá tràng do nhiễm Hp

-           Do Hp có khả năng kháng lại nhiều loại kháng sinh thông thường. Vì vậy, trong phác đồ điều trị cần có 2 hoặc nhiều kháng sinh được phối hợp với thuốc ức chế bơm proton (PPI). Trường hợp cần thiết phải kết hợp thêm thuốc bismuth.

-            Có nhiều phác đồ điều trị rất hiệu quả để diệt Hp. Thời gian điều trị: 10-14 ngày.

-            Trong thời gian điều trị có thể có những tác dụng phụ như chua miệng, đắng miệng, nhức đầu, buồn ói. Các triệu chứng này sẽ hết khi kết thúc điều trị.

Kết luận

Nhiễm Hp là bệnh lý nhiễm khuẩn mạn tính thường gặp. Đường lây nhiễm chủ yếu là đường ăn uống. Điều trị tiệt trùng rất cần thiết để phòng ngừa viêm loét dạ dày-tá tràng, các biến chứng và ung thư dạ dày về sau.

Nếu bạn cần tư vấn chi tiết hoặc điều trị và theo dõi bệnh, xin liên hệ các Phòng khám Nội tổng quát hoặc tiêu hóa tại Khoa Khám bệnh-Bệnh Viện Bình An.

 

Bs Võ Phúc Khánh     

Trưởng khoa Nội-BV Bình An

(Tổng hợp trên Internet)  

 
You are here: Trang chủ Tin y dược Y học thường thức Bạn đã biết về nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (Hp)?